Tục thờ Táo quân trong truyền thống dân gian Việt Nam
Thứ Hai, 05/02/2024 08:40 GMT+7
Ông Táo theo dân gian là chỉ ba hòn đất nung xưa thường đặt ở bếp để kê nồi lên nấu. Mỗi miền cũng có cách gọi khác nhau về ông Táo, người miền Bắc gọi là Ông Đầu rau, người miền Trung gọi là Ông Núc, người Nam bộ vùng đồng bằng sông Cửu Long thường gọi là “cà răng ông táo” [1]. Tuy nhiên trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, ông Táo hay Táo quân còn là vị thần cai quản việc bếp núc trong mỗi nhà. Vì là vị thần bếp núc quan trọng nên Táo quân được thờ phụng và trong năm có một ngày ông được lên chầu trời để báo cáo Ngọc hoàng những việc diễn ra suốt năm của gia chủ, đó là ngày 23 tháng Chạp.
Có khá nhiều truyền thuyết về Táo quân. Sự tích ông đầu rau trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam kể rằng: Có vợ chồng nhà nọ rất nghèo, làm thuê làm mướn sinh nhai nhưng sống rất tình cảm. Một năm trời làm mất mùa đói kém, người chồng bàn với vợ muốn ra ngoài kiếm việc làm ăn, hẹn rằng: Nếu sau 3 năm không trở về thì người vợ có thể đi lấy chồng khác. Ba năm qua đi không một tin tức, người vợ ở nhà đi làm thuê cho một nhà giàu, được ông chủ rất yêu thương quý mến. Nhưng người vợ tuyệt đối không xiêu lòng. Sau 3 năm bặt vô âm tín, người vợ tin rằng chồng mình đã chết. Khi được ông chủ giàu có hỏi cưới, người vợ xin phép được để tang chồng 3 năm, sau 3 năm ấy nếu người chồng vẫn không trở về thì nàng sẽ đồng ý. Ba năm nữa lại trôi qua và người chồng vẫn không một tin tức. Người đàn ông giàu có lại hỏi cưới, người vợ xin phép đợi thêm một năm nữa. Một năm lại qua đi, người vợ đồng ý nối duyên với người đàn ông mới. Đột nhiên 3 tháng sau người chồng cũ trở về vẫn nghèo khổ nhưng mong muốn được gặp lại người vợ yêu thương. Khi thấy vợ mình đã có chồng mới thì quá buồn phiền, bèn treo cổ tự vẫn. Người vợ biết tin vừa đau xót, vừa ân hận nhảy xuống ao chết theo. Người chồng mới đau khổ, cho rằng là lỗi ở mình nên sau khi chia hết tài sản cho họ hàng cũng uống thuốc độc tự vẫn. Ở thế giới bên kia, lúc gặp Diêm vương để định công luận tội, cả ba đều nói hết nỗi lòng. Diêm vương thương cảm thấy họ đều thực lòng yêu thương nhau bèn hóa kiếp cho họ thành ba ông đầu rau để được ở bên nhau mãi mãi và để ngọn lửa bếp luôn sưởi ấm tình yêu của họ.
Trong Lược khảo về thần thoại Việt Nam chuyện Sự tích thần bếp cũng là câu chuyện kể về tình yêu của ba người, chỉ khác nhau về chi tiết. Xưa có hai vợ chồng là Trọng Cao và Thị Nhi lấy nhau đã lâu mà không có con. Một hôm hai vợ chồng cãi nhau, Trọng Cao nóng nảy nên đánh vợ, Thị Nhi bỏ nhà ra đi, sau đó kết duyên với một người khác là Phạm Lang. Trọng Cao sau khi vợ bỏ đi thì vô cùng hối hận bèn cũng bỏ nhà đi tìm. Tìm mãi không được, hết tiền ăn đường, đành phải xin ăn lần hồi. Một hôm Trọng Cao tình cờ đến xin ăn tại nhà Phạm Lang, Thị Nhi nhận ra chồng cũ nhân lúc chồng mới đi vắng thì đưa vào nhà thết đãi. Sợ chồng mới bắt gặp, Thị Nhi cho Trọng Cao trú tạm trong đống rơm ngoài đồng. Không ngờ Phạm Lang vô tình đốt đống rơm để lấy tro bón ruộng khiến Trọng Cao bị chết cháy. Thị Nhi thấy Trọng Cao như vậy cũng nhảy vào chết theo. Phạm Lang thấy thế lao vào cứu cũng bị lửa thiêu chết. Câu chuyện của họ đã khiến Ngọc Hoàng Thượng đế xót thương nên cho hóa kiếp thành Thần Bếp và phong cho mỗi người một danh vị: Phạm Lang làm Thổ công, trông coi việc bếp, danh hiệu là Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân; Trọng Cao làm Thổ địa, trông coi việc nhà cửa, danh hiệu là Thổ Địa Long Mạch Tôn Thần; Thị Nhi làm Thổ kỳ, trông coi việc chợ búa, danh hiệu là Ngũ Phương Ngũ Thổ Phúc Đức Chính Thần.
Người Chăm-pa cũng có chuyện Vua bếp nhưng là sự kết hợp giữa Sự tích thần bếp và chuyện Ai mua hành tôi. Người Trung Hoa có câu chuyện về nhân vật Trương Lang và Đinh Hương cũng tương tự chỉ khác ở đây nhân vật có hai người. Thậm chí theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đổng Chi thì người ở vùng miền Nam Ấn Độ cũng có một sự tích gần giống ở ta. Như vậy có thể thấy nhiều nơi có truyền thuyết về Táo quân hay Thần Bếp, có lẽ điều này xuất phát từ tục thờ Thần Lửa, một phong tục có từ lâu đời của nhiều dân tộc trên thế giới. Tuy nhiên sự tích Táo quân và tục thờ “hai ông một bà” mang bản sắc khá riêng của người Việt.

Bàn thờ Táo quân trong tranh dân gian Đông Hồ. Nguồn: sưu tầm
Trịnh Hoài Đức trong sách Gia Định thành thông chí chép về phong tục của người phương Nam: (Cư dân vùng Gia Định) có tục thờ thần Táo quân, ở hai bên vẽ hai hình người nam, ở giữa vẽ một hình người nữ, cũng tượng trưng của quẻ Ly Hỏa có ý là hai hào dương ở giữa một hào âm làm chủ.
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính cũng chép: Hai mươi ba tháng chạp là Tết Táo quân. Ta thường cho hôm ấy là ngày vua bếp lên chầu trời. Nguyên trong đạo của Lão Tử có nói rằng: Ngày hai mươi ba tháng chạp thì Táo quân lên chầu trời để tâu việc thiện ác của nhân gian. Ta theo điển ấy nên đến ngày đó thì mua hai mũ ông, một mũ bà để thờ và mua con cá chép để làm ngựa cho Táo quân lên chầu trời.
Mặc dù truyền thuyết về Táo quân có khá nhiều dị bản nhưng hầu khắp các vùng miền ở Việt Nam việc thờ Táo quân hay Thần Bếp như một tín ngưỡng không thể thiếu trong đời sống người Việt. Ông Táo được quan niệm là vị thần cai quản mọi việc trong nhà, coi xét đánh giá những việc đã làm trong năm của gia chủ. Cuối năm vào ngày 23 tháng Chạp, ông có trách nhiệm lên trời báo cáo Ngọc Hoàng những sự kiện xảy ra trong năm ở trần gian. Vì vậy người Việt thường làm lễ tiễn Ông Táo thật thịnh soạn với mong muốn những điều tốt đẹp nhất sẽ được thưa với Ngọc Hoàng.
Cho đến nay tục thờ Táo quân vẫn được hầu hết các gia đình người Việt coi trọng gìn giữ như một một phong tục truyền thống đẹp, mang ý nghĩa nhân văn, mong muốn mọi người cả năm làm điều tốt để cuối năm được Táo quân và Ngọc Hoàng ghi nhận. Thậm chí sự tích Táo quân còn được chuyển thể thành nhiều loại hình nghệ thuật, đặc biệt Chương trình Gặp nhau cuối năm của VTV với những câu chuyện vui hài hước về Táo quân đã trở thành món ăn tinh thần không thể thiếu mỗi dịp Tết đến xuân về trong các gia đình ở Việt Nam.
[1] Vương Hồng Sển trong Tự vị tiếng nói miền Nam giải thích: “Cà răng ông táo” là cái lò nắn bằng đất do người Khơ-me chế tạo để chụm củi đun nấu. Có thể ban đầu được bày bán tại chợ Cái Răng lâu dần thành tên riêng.
Tài liệu tham khảo:
- Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí.
- Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2000.
- Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nxb Văn học, Hà Nội, 2005.
- Vương Hồng Sển, Tự vị tiếng nói miền Nam, Nxb Trẻ thành phố Hồ Chí Minh, 1999.
- Nguồn: TTLTQG1 - Nguyễn Thu Hoài
Công Hiếu