image banner
Rượu trong ngày lễ tết và trong đời sống cung đình
Màu chữ
Rượu không thể thiếu trong ngày Tết. Rượu cũng là thức uống làm con người gần nhau hơn, các bữa tiệc trở nên rộn ràng, nồng ấm hơn, “vô tửu bất thành lễ”. Châu bản triều Nguyễn có nhiều văn bản đề cập đến rượu: Rượu dùng để tế lễ, rượu dùng trong yến tiệc cung đình, rượu dùng để ban thưởng và cả để bồi bổ sức khỏe cho hoàng đế, những người trong hoàng gia, quan lại,… càng cho thấy rượu từng có vai trò quan trọng trong ngày lễ tết và trong sinh hoạt đời sống cung đình.

Nấu rượu thời xưa, ảnh sưu tầm

Không rõ thời điểm chính xác rượu được phát minh là từ bao giờ nhưng thuở xa xưa, rượu đã được dùng để tế thần linh, để cúng tổ tiên và rượu không thể thiếu trong các bữa yến tiệc. “Lĩnh Nam chích quái” khẳng định, từ xưa dân ta đã biết lấy vỏ cây làm áo, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cầm thú, cá, ba ba làm mắm, 

Rượu trước hết để cúng tổ tiên như để thể hiện tấm lòng thành của con cháu. Trong hoàng cung cũng vậy, rượu không thể thiếu trong tế lễ ở các miếu điện. Nhân lễ Hạ hưởng vào năm Thành Thái thứ 9 (1897), tỉnh Quảng Bình theo lệ cung tiến 2 vò rượu, niêm phong cẩn thận đem nạp. Rượu đó hiện đã đem tới nơi, kiểm tra thấy niêm phong còn nguyên vẹn. (Thị vệ) xin đem 1 vò chia phần, đến ngày 30 tháng đó cung tiến 25 án tại các miếu điện, còn 1 vò chia ra dâng tiến 3 cung, mỗi cung một cút rượu, chỗ còn lại cùng với rượu cúng xong đem về tiến nội [1].

Rượu còn được nhà vua dùng để ban thưởng cho những người có công. Theo nội dung tấu trình của Nguyễn Hữu Thận vào năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), việc chi cấp tiền, lương cho dân phu làm công trình sửa sang lại sông Vĩnh Điện lần này đã quá quy định, nhưng làm cho việc công được mau chóng cũng là điều khó nhọc, cho doanh thần Quảng Nam phát tiền kho, chuẩn bị trước 3 con bò, 30 con lợn và 30 vò rượu, 60 phương gao nếp, vào ngày công trình hoàn thành giao cho Đổng lý Trương Văn Minh ban thưởng, uý lạo các quan văn võ, binh lính dân phu, để tỏ ý thông cảm thương xót người cần lao[2].

Trong yến tiệc cung đình, bên cạnh các món ăn sơn hào hải vị, không bao giờ thiếu rượu. Bản Tấu của Bố chánh sứ Tuần phủ quan phòng Biên Hoà Phạm Duy Trinh trình bày, theo tập tâu của tỉnh Biên Hoà, việc xây đắp thành ở tỉnh ấy đã xong. Toàn bộ số quan lại và binh dân tham gia công trình đó là bao nhiêu truyền cho tỉnh ấy chi 500 quan tiền trong kho để mua sắm các loại bò, lợn, gạo nếp, rượu để ban yến một lần và diễn trò cho xem 3 ngày để tỏ sự ban thưởng. Nay lại gia ân chiểu theo đúng số binh dân làm việc thưởng cho mỗi người 1 quan tiền…Văn bản năm Minh Mệnh thứ 19 (1838).[3]

Chuẩn bị cỗ ngày lễ, ảnh sưu tầm

Hàng năm, các địa phương như Nam Định nộp thóc nếp về lưu trữ ở kho Nội vụ. Sau đó, Phủ Nội vụ chuyển cho Quang Lộc tự cấp phát cho các hộ nấu rượu chuyên nghiệp ở Phủ Thừa Thiên nấu để phục vụ các dịp tế lễ, yến tiệc của triều đình. Năm Tự Đức thứ 10 (1857), tỉnh Nam Định chở đến nộp 250 hộc thóc nếp, nên theo lệ nghiệm thu đưa vào kho cất giữ. Đã qua hội đồng kiểm tra, viên khoa đạo ở kho sức cho đem số thóc đó ra xem xét, thu nhận. Lần trước đã chở đến nộp 700 hộc, nghiệm thu đều được vào loại tốt. Lần này mua chở đến 250 hộc thóc, gạo so với lần trước sút kém hơn, theo lý thì phải trả về, nhưng xét thấy tỉnh ấy nhiều lần bị lụt, lúa má thất bát cho nên hạt thóc không được chắc mẩy. Nay xin trừ bớt giá mua, theo như giá mua của tỉnh Bắc Ninh mỗi hộc là 8 quan 7 mạch tiền mà cấp phát. Còn số thóc nếp ấy, xin do nha đó đem chi phát trước để nấu rượu cả năm và tùy việc mà chi dùng.[4]

Rượu còn được dùng để bào chế các thang thuốc để bồi bổ sức khỏe cho vua quan và những người trong hoàng tộc và cả dùng chữa cho binh lính. Năm Minh Mệnh thứ 7 (1826), Lương Tiến Tường vâng soạn quy định bào chế các thang thuốc, từ nay về sau, phàm mỗi toa thuốc “Bình vị nguyên thọ” cung cấp cho các hoàng tử, hoàng nữ trong cung đều cho dùng thêm 1 cân quế, 20 cân mật ong, 20 cân rượu trắng,… định thành 600 thang. Đơn thuốc “Cống phẩm nguyên thọ” cũng tăng các vị thuốc như trên, định thành 900 thang. Đơn thuốc “Bình vị nguyên thọ” dùng chữa cho lính đều dùng thêm 1 cân quế, 5 cân mật ong, 20 cân rượu trắng, định thành 1000 thang. Mỗi đơn thuốc “Cống phẩm nguyên thọ” cũng tăng thêm các vị giống như trên, định thành 1200 thang. Nếu cung tiến cho vua dùng và cung cấp cho các hoàng tử, hoàng nữ mỗi vị 1 cân, làm 13 thang. Lệnh ấy cho nha môn biết[5].

Năm Tự Đức 10, Bộ Hộ tâu, ngày mồng 5 tháng này (tháng 6) nhận được bản sách của nguyên Tuần phủ Lạng Bình Phan Khắc Thận trình bày, vâng chi nguyên liệu làm thuốc, tiền mua rượu, mật bào chế để điều trị cho biền binh. Việc đã xong xin thanh toán. [6]

Bình, chén, khay đựng rượu cũng hết sức cầu kỳ, sang trọng. Châu bản triều Nguyễn đề cập chi tiết về việc chi bạc, đồng chế tạo bình và chén đựng rượu làm đồ tế khí.[7]

Như vậy, trong đời sống hoàng cung, rượu góp phần tôn vinh lễ nghĩa và phần nào tạo nên nét đặc sắc trong ẩm thực. Với những mục đích tế lễ, ban thưởng, bào chế thuốc,… sự hiện diện của rượu thực sự có ý nghĩa về văn hóa tinh thần.


[1] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thành Thái, tập 26, tờ 245.

[2] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng, tập 10, tờ 114.

[3] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng, tập 60, tờ 61.

[4] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 73, tờ 1.

[5] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Minh Mạng, tập 18, tờ 251.

[6] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Tự Đức, tập 69, tờ 30.

[7] Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, Châu bản triều Nguyễn, Thiệu Trị, tập 13, tờ 279.

Nguồn: Hồng Nhung - TTLTQG1

Công Hiếu
TRUNG TÂM LƯU TRỮ LỊCH SỬ
Người chịu trách nhiệm chính: Huỳnh Hoàng Tây  -  Giám đốc Trung tâm, Trưởng Ban biên tập

Điện thoại: 0290 3676010;

Địa chỉ: Số 09, đường Trần Nguyên Đán, phường Tân Thành, tỉnh Cà Mau

ipv6 ready
Chung nhan Tin Nhiem Mang